Call: (+84) 094 52 52 552 - 0985 001 789

SỰ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI VIỆT - TỤC THỜ CÚNG CÁ ÔNG

Rate this item
(0 votes)

Từ khía cạnh khác của truyền thuyết con rồng cháu tiên cho thấy người Việt đã gắn bó với trung du miền núi hơn là với biển. Suốt một ngàn năm đô hộ của phương Bắc, tín ngưỡng mà người Việt tiếp cận được và chịu ảnh hưởng cũng chỉ là những yếu tố liên quan đến nghề nông. Những yếu tố văn hóa biển trong hệ thống văn hóa Việt xưa còn mờ nhạt. Trong khi đó ở phía Nam người Chăm đã đặt nền móng và xây dựng cho mình một truyền thống đi biển. Kinh tế biển, văn hóa biển đã để lại dấu ấn sâu sắc trong quá trình phát triển của vùng đất nằm ở ngã tư đường giao lưu văn hóa-văn minh. Cũng có một sự thực cần nói tới đó là sự ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa đối với người Việt chủ yếu đi cùng bước chân của kẻ xâm lược, còn người Chăm truyền thống đi biển đã đưa họ tới với văn minh Ấn Độ…

Trong khi các thần linh Ấn Độ trên đất Champa sụp đổ cùng với bộ máy chính quyền của vương triều bại vong thì lưu dân người Việt tìm thấy sự gần gũi của các vị thần dân gian sau những chuyến hành trình dài ngày đầy gian lao, hiểm nguy trên biển. Những ý niệm mới về các thần linh bảo trợ trên biển đã dần dần thấm vào tâm tư, tình cảm, đời sống tinh thần của lớp lưu dân bắt đầu gắn bó cuộc đời mình dọc duyên hải miền Trung bên cạnh hành trang tinh thần mà lưu dân người Việt mang theo là những vị thần thuần nông. Theo thời gian, địa bàn sinh cư của người Việt không ngừng mở rộng về phương Nam, xa dần với không gian văn hóa Trung Hoa.

Theo suốt chiều dài lịch sử đầy biến động, quá trình thụ ứng văn hóa gần với phương Nam của người Việt diễn ra như là một xu thế tất yếu. Tín ngưỡng thờ cúng Cá Ông là một trong những biểu hiện sinh động của quá trình này trong bối cảnh lịch sử khi ấy.

Sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An cho biết vào đầu thế kỷ 16, dân chài cửa Việt đã bắt cá voi mắc cạn khi triều xuống để lấy xương của nó làm xà nóc dựng nhà. Lớp lưu dân người Việt đến Quảng Trị lúc ấy chưa hề có ý niệm đó là “ngọc cốt của thần linh”, phải được đem vào khám thờ như sau này ngư dân người Việt đã làm. Gắn bó với biển khơi muôn trùng nhiều giông bão, niềm tin đó của ngư dân được kiểm chứng từ những hiện tượng có thật là cá voi cứu người, cứu thuyền lưu truyền trên vùng đất mới… Ngư dân Việt gọi đền/miếu thờ cá voi của mình bằng cái tên đền/miếu/lăng/dinh ông. Truyền thuyết về thần cá voi theo lưu dân người Việt thì thần cá voi từ ngàn vạn mảnh áo cà sa của Phật Bà Quan Âm mà thành. Phật Bà Quan Âm giàu lòng từ bi hẵn là gần gũi với tâm linh người Việt …

mieu-hai-than

 

Thực ra, lịch lễ cúng cá ông của ngư dân cũng mỗi nơi một khác và không phải đối với miền Trung Trung Bộ hay Nam Trung Bộ thường diễn ra trong những tháng nhiều mưa bão (được cho quảng thời gian cá ông dễ lụy), còn đối với các tỉnh Nam Bộ thường bắt đầu hoặc kết thúc một mùa đánh bắt cá tôm. Trong đền thờ cá ông của người Việt là bộ xương cá voi “thấy tận mắt”, được trân trọng gọi là Ngọc cốt. Ngư dân tin rằng khi ông lụy (chết) mà thân xác trôi về với làng nào thì làng đó lắm phúc, nhiều may. Người đầu tiên phát hiện ông lụy được chít khăn tang đỏ, xem như con trưởng của ông.

Nghi thức trọng thể trong ngày vía ông của ngư dân Việt là đám rước với kiệu Nghinh ông từ ngoài biển về. Đám rước đông hàng ngàn người. Ngư dân mời ông về trong ngày vía để bày tỏ ý nguyện và lòng biết ơn hòa quyện, gắn bó trong niềm chung vui đầm ấm. Những ngày cúng ông không khí vạn chài nhộn nhịp như trong ngày Tết. Trên bến, dưới thuyền cờ hoa lộng lẫy, làng cá tấp nập khách thập phương. Nghi thức, ý nghĩa biểu tượng chung là vậy, nhưng các bước cúng ông trong ngày vía giữa các vùng, miền cũng có nhiều điểm khác nhau. Ở Trung Trung Bộ người ta chủ yếu nghinh/cúng ông trong ngày vía, nhưng ở Nam Bộ, bên cạnh nghi thức ấy, sau khi đã rước ông về dinh/miếu là khởi cúng Tiền hiền, Hậu hiền. Lễ cúng những người có công lập làng trước khi vào Chánh tế-cúng ông, là sự tri ân của cư dân trên vùng đất mới khai phá, tạo ra nét riêng trong cách bài trí các đối tượng tôn thờ và thứ tự các bước trong nghi thức cúng ông. Không phải chỉ có thế, trong nhiều ngôi đền cá ông trên đất Nam Bộ còn thờ cả Quan Công, Thiên Y A Na, Bà Ngũ Hành, trước đền/lăng/dinh ông còn thờ tượng Phật Bà Quan Âm… mà miền Trung không làm như vậy. Ngoài ra, nghi thức thờ cúng cá ông của các tỉnh Trung Bộ có lễ xuống biển; ở Khánh Hòa có tục hèm mang đậm dấu vết của văn hóa Chăm; ở Bình Thuận có trò diễn bạn chèo Nghinh ông, nhưng ở Nam Bộ không có những nghi thức này. 

le-hoi-cau-ngu-da-nang

 

Sự phổ biến của tín ngưỡng thờ cúng cá ông đối với các làng cá lâu đời ven biển không những đã cấu thành một yếu tố văn hóa biển mà còn làm cho yếu tố đó trở nên nổi bật hơn trong văn hóa biển của người Việt. Nghi thức Nghinh ông đã trở thành một kiểu thức khá phổ biến, chi phối cách thờ cúng của loại hình tín ngưỡng xuất hiện sau nó và tạo ra những nét tương đồng trong cách thức cúng lễ của cộng đồng ngư dân. Tục thờ Bà Ngũ Hành đã có từ lâu nhưng Nghinh Bà tương tự Nghinh (cá) ông thì chỉ có ở ngư dân… Tất nhiên, “tiềm thức nông nghiệp” biểu hiện rõ rệt trong nghi lễ cầu mưa, cầu an vẫn được ngư dân thực hiện trong lễ cúng cá ông bên cạnh lễ cầu ngư với nhiều điểm giống với nghi thức cúng đình hàng năm…

Tục thờ cúng cá ông của người Việt, từ Trung Trung Bộ vào tới Nam Bộ, về cơ bản là giống nhau, nhưng sắc thái văn hóa địa phương, vùng miền không chỉ thể hiện trong cách xây dựng đền miếu, sự bổ sung các đối tượng thờ cúng do đó có các bước cúng lễ khác nhau mà còn để lại từng dấu ấn trong phần hội lễ. Nếu như lễ là phần linh thiêng, là lúc con người bày tỏ ý nguyện và lòng biết ơn, là lúc để lòng người đón nhận giao kết niềm tin thì hội là phần vui chơi, giải trí với nhiều hoạt động rất đa dạng, phong phú diễn ra tiếp sau phần lễ, cũng có khi xen kẽ sau mỗi nghi thức cúng lễ. Bên cạnh một số loại hình hoạt động mang tính thể thao, các trò chơi dân gian gắn liền với nghề biển thường được tổ chức trong ngày hội cúng ông từ Trung Trung Bộ vào đến Nam Bộ, như đua thuyền, đua thúng, đấu vật, kéo dây, trói cua, bắt vịt, đi cà kheo… thì các loại hình nghệ thuật biểu diễn thường mang dấu ấn vùng miền rõ rệt. Vùng Bình-Trị-Thiên thường tổ chức hát hò khoan-chèo cạn, trò múa bông... còn Nam Trung Bộ, từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đến Ninh-Bình Thuận thường tổ chức hát bả trạo và hát bội, trong khi ở Nam Bộ không thể thiếu hát bội, xây chầu và múa lân sư rồng…

Nội dung bả trạo là một bài ca nghề nghiệp của ngư dân trên dãi đất Trung Bộ trong khi đó hát bội với những tích tuồng là phần không thể thiếu trong hội cúng ông của ngư dân Nam Bộ. Người ta tổ chức hát bội ngay trong khuôn viên đền thờ. Không khí ca hát mừng thần và vui chơi giải trí trong lễ cúng cá ông của ngư dân Nam Bộ dường như hòa quyện làm một. Đó có thể là đặc trưng của lễ cúng cá ông trên vùng đất mới ít giông bão hơn…

ba-trao

Với sự góp mặt của cá ông đã làm phong phú thêm đối tượng thần linh của người Việt, đặc biệt góp thêm một thần linh biển vốn chưa nhiều trong hệ thống thần linh của người Việt. Tục thờ cúng cá ông không những đã bổ sung và tạo ra sắc thái mới mà còn là mốc đánh dấu bước phát triển trong hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Việt. Quá trình đó như một dòng chảy từ Trung Trung Bộ vào đến Nam Bộ và có mối quan hệ chặt chẽ với tiến trình phát triển lịch sử, văn hóa của vùng đất này. Trong sự phát triển liền mạch đó, tục thờ cúng cá ông cũng để lại những nét riêng trên mỗi vùng đất, tạo nên sự thống nhất trong đa dạng, góp phần định hình đặc trưng văn hóa vùng đất “mới”.

Ngày nay, tục thờ cúng cá ông có vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần và tâm linh của ngư dân ven biển. Lễ hội Nghinh ông là một hoạt động văn hóa/tín ngưỡng thu hút nhiều ngư dân và khách du lịch. Sự phát triển của tín ngưỡng này đến thời hiện đại càng tỏ ra phù hợp với nhu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, động vật nguy cấp… Trong khi nhiều quốc gia tiên tiến vẫn tìm cách săn cá voi thì những người dân chài Việt Nam đã bảo vệ loại động vật nguy cấp đó theo cách của mình, một cách bảo vệ rất văn hóa…